
Khung kiến trúc này được ban hành nhằm thiết lập quy hoạch tổng thể cấp quốc gia về công nghệ, dữ liệu và quy trình phòng thủ, cụ thể hóa các thành phần an ninh mạng dùng chung được quy định tại Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, phù hợp với nguyên tắc dùng chung, chia sẻ tài nguyên, tránh đầu tư thừa, trùng lặp quy định tại Điều 6 và Điều 30 Nghị định số 331/2026/NĐ-CP, bao gồm: Nền tảng điều hành an ninh mạng quốc gia: Giám sát, điều phối và chỉ huy ứng phó sự cố an ninh mạng thống nhất; Nền tảng phòng vệ mạng quốc gia: Hệ thống lá chắn bảo vệ biên giới số và các hệ thống trọng yếu; Hạ tầng bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu đầu cuối: bảo vệ thiết bị và người dùng cuối trong các cơ quan, tổ chức; Các hệ thống chuyên ngành an ninh mạng thuộc nhóm các nền tảng số dùng chung quốc gia.
Trong đó, Ban Cơ yếu Chính phủ có trách nhiệm quản lý, hướng dẫn tiêu chuẩn mật mã cơ yếu và chữ ký số chuyên dùng công vụ áp dụng trong Khung kiên trúc an ninh mạng quốc gia; triển khai sản phẩm mật mã cơ yếu và hệ thống thông tin cơ yếu để bảo vệ bí mật nhà nước; bảo đảm an ninh mạng theo cấp độ đối với hệ thống thông tin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính phủ theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Nghị định số 331/2026/NĐ-CP.
Theo Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, hệ thống chứng thực chữ ký số chuyên dùng công vụ do Ban Cơ yếu Chính phủ chủ quản, cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số để xác thực và bảo đảm tính pháp lý, toàn vẹn cho các văn bản, giao dịch điện tử trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị. Khung kiến trúc an ninh mạng quốc gia kế thừa, dẫn chiếu thành phần này; việc kết nối, chia sẻ và trao đổi dữ liệu thuộc phạm vi bí mật nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh mạng và cơ yếu.
Quý độc giả vui lòng truy cập thông tin tại đây
Theo antoanthongtin.vn